Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

NGUỒN GỐC VÕ HỌC - HỒ LÊ NGUYÊN KHÔI



I.Thời điểm và nguyên nhân võ thuật sơ khai xuất hiện trên trái đất.
Từ xưa, khi các sinh vật bắt đầu xuất hiện trên trái đất, sự tồn tại và phát triển là 2 điều thiết yếu đối với chúng. Thông qua việc sinh trưởng và phát triển của động vật nói chung, con người nói riêng, các bản năng tự nhiên như tự vệ và tấn công đã có trong cơ thể của chúng để bảo tồn sự sống.
Từ lý do trên, trong các loài khác nhau đã hình thành các hình thức hay các kiểu tấn công, tự vệ khác nhau. Với các động vật có cơ thể phát triển to lớn (hổ, báo, gấu…) lối tấn công và phòng thủ thường là các động tác mạnh bạo nhgư chụp bắt, cấu xé, cắn… Với những động vật cấp trung (rắn, hạc, khí…) cũng có lối tự vệ riêng. Lối tự vệ đó phù hợp với thể trạng của chúng, giúp cho chúng tự bảo vệ và săn mồi dể dàng. Còn các động vật nhỏ bé (kiến, dế, bọ ngựa…) lại có lối phòng vệ đặc trưng phù hợp với cơ thể có cấu tạo nhỏ bé của chúng.
            Đối với con người:
Con người là sinh vật có bộ óc phát triển cao nhất. Do đó lối tự vệ và tấn công của con người được tổng hợp cao cấp hơn các động vật khác.
Lúc mới được hình thành, con người đã phải chống lại thú dữ để bảo tồn nồi giống. Lúc đó khả năng phòng thủ đã tự xuất hiện. Do sự sống và sự phát triển nòi giống, con người bắt đầu biết tìm kiếm thức ăn và săn mồi để ăn.
Từ đó các kỹ thuật tấn công bắt đầu phát triển. Tuy nhiên, đó chỉ là những kỹ thuật sơ khai chưa có ý nghĩa sâu xa, chưa có hệ thống rõ ràng nên đó là “võ” nhưng chữ “thuật” chưa được dùng tới.
Khi xã hội loài người hình thành và bước sang giai đoạn chiếm hữu (gồm chiếm hữu nô lệ, chiếm hữu ruộng đất…). Sự tấn công và phòng vệ được chú ý phát triển ở tất cả mọi lãnh thổ, mọi đất nước trên trái đất. “Võ” trỡ thành một công cụ quan trọng cho kẻ mạnh mở mang lãnh thổ và thu thập của cải. Nhưng thời điểm đó “công cụ” được đạt lên hàng đầu của xã hội tức là “lực” (sức lực) tức là khả năng về sức mạnh của mỗi cá nhân. Người nào có “thể lực” càng mạnh, “quyền lực” trong tay càng vững vàng, sẽ được mọi người kính nể.
Tuy nhiên, thời điểm đó các lối giao tranh chưa thể gọi là “võ thuật” được. Các lối đánh đó chỉ là đòn đơn, chủ yếu dùng sức mạnh nhiều hơn. Cụ thể trong văn học Tây âu, văn học Hy Lạp cổ đại luôn đề cao các nhân vật lực sĩ, võ sĩ… Ở châu Á sức khỏe và tài năng các Vua, chúa thống trị thường được nhắc tới. Mà ông bà ta lại có câu:
            “Lực bất như quyền”.
Điều này chứng tỏ ở đây chỉ có lối đánh sơ khai dùng “lực” chứ chưa phát triển cao thành bài bản (quyền pháp) một cách rõ ràng. Nghĩa là lối đánh này chưa hay, không kết được bộ óc vào, chưa có nghệ thuật.
Nhưng phần trên cũng chứng tỏ cho chúng ta thấy võ thuật đã tự xâm nhập vào tất cả các loài vật nói chung và con người nói riêng.
II. Các chuyển biến và sự hình thành “võ thuật” Đông Phương.
Trong phần này chữ “võ thuật” bắt đầu được dùng để chỉ rõ mộ môn học thuật hay nghệ thuật chiến đấu mới xuất hiện.
Như phần một đã nêu, ở Đông Phương và các nơi khác trên trái đất, các hình thức tự vệ, tấn công xuất hiện cùng lúc. Tuy nhiên nó chưa phát triển thành một môn học thuật rõ ràng. Sau khi xã hội phân chia giai cấp việc tranh giành lãnh thổ, nô lệ diễn ra gay gắt. Một số lãnh chúa cố gắng tìm ra những lối tấn công hay phòng vệ hay nhất, ngõ hầu bảo vệ những gì họ đang có và xâm chiếm các thứ khác. Quốc gia tìm ra phương pháp đó sớm nhất là Ấn Độ.
Cách đây 5000 năm tại nước Thiên Trúc (Ấn Độ), một vị hoàng tử, vì muốn bảo tồn địa vị của mình, đã ra công tìm hiểu sâu về nghệ thuật đánh đỡ đó. Ông đã quan sát lối đánh đỡ, giao tranh giữa các loài thú. Nhờ sự quan sát cùng với trí thông minh sẵn có, ông đã chế tác ra nhiều chiêu thức chiến đấu dùng cho con người. Ông cũng nhân thấy rằng tất cả các loài thú đều có những nhược điểm triên cơ thể của chúng; khi ta tấn công vào những chỗ đó chúng sẽ bị tiêu diệt một cách dễ dàng. Như rắn, điểm yếu nhất là đàu và xương sống. Hổ, báo, voi… thì điểm yếu lại là cổ, mi tâm, nhĩ trung… Chính sự phát hiện đó giúp ông liên tưởng đến việc tìm ra các điểm nhược trên cơ thể con người. Các điểm đó sẽ giúp các đòn tấn công đạt kết quả nhanh nhất và hiệu quả cao nhất. Ông đã dùng chính thân thể của các nô lệ của ông để làm thí nghiệm. Một thời gian sau ông đã thành công, tìm ra nhiều nhược điểm trên cơ thể con người mà sau này được gọi là huyệt đạo.
Những gì đã nghiêm cứu được, ông truyền lại cho các thế hệ sau. Từ đó hình thành một môn học thuật mới đó là “võ thật”. Có thể coi “võ thuật” là một môn học, vì nó chỉ ra các hình thức tấn công, các vị trí tấn công rõ ràng, chính xác. Nó giúp cho người yếu có thể chống lại kẻ mạnh, người ít lực chống lại người có sức lực mà người có sức đó không có sự hiểu biết nào về “quyền pháp”.
2500 năm sau, một vị thái tử là Tất Đạt Đa dựa vào đạo bà la môn sáng lập đạo giáo mới là Phật giáo (vị thái tử đó là phật tổ Như Lai mà trên thế giới ai cũng biết). Từ đó võ thuật được đưa vào đạo giáo.
Sau khi phát triển mạnh tại Thiên Trúc, các thế hệ sau tìm cách truyền bá Phật giáo rộng rãi. Các vị sứ giả của phật giáo ra đi các nơi để truyền đạo. Do đường đi gian khổ lại có nhiều thú dữ, các đại sư đã họp lại sáng chế ra một loại “quyền thuật” rõ rệt. Loại “quyền thuật” đó có phương pháp, có bài bản. Khi luyện tập thành công các sứ giả có được bản lĩnh phi thường để phòng thân, vượt khó trong quá trình truyền bá đạo giáo.
Cùng với việc truyền đạo, các nhà sư cũng truyền bá thêm môn học về võ thuật cao thâm cho mọi người. Từ đó “quyền thuật” bắt đàu hình thành có phương pháp, có bài bản rõ ràng, cụ thể.
Cũng chính do việc truyền đạ mà 1000 năm sau một nhân vật ở Thiên Trúc đã gây chấn động và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển võ học Trung Hoa, đó chính là Bồ Đề Đạt ma – vị tổ sư đời thứ 28 của Phật giáo.
III. BoDhi Dhama (Bồ Đề Đạt Ma) với sự hệ thống hóa nền võ học trung hoa
1.                  Đạt Ma tổ sư:
Theo sử sách gi lại, tổ sư Đạt Ma tên thật là Bồ Đề Đa La. Người là con trai thứ 3 của vua Chi Vương thuộc dòng Sát Đế Ly nước Quốc Hương thuộc vùng Nam Thiên Trúc (Ấn Độ).
Trong thời kỳ còn là một thái tử, tổ sư Đa La là một người thông minh tuyệt đỉnh. Tổ sư đã học tinh thông 10 môn võ được lưu truyền tại Thiên Trúc thời bấy giờ. Tổ sư học môn nào cũng tìm hiểu kỹ lưỡng tường tận.
Sau đó tổ sư rời bỏ tước vị đi tu theo Phật giáo. Tổ sư được thừa truyền tâm ấn giác ngộ đắc pháp với ngài Bát Nhã Đa La. Ngài Bát Nhã Đa La (Prajna tara) là vị tổ sư đời thứ 27 của phật giáo. Sau khi giải thích được chữ “Tâm” Bồ Đề Đa La được ngài Bát Nhã Đa La đổ tên là Bồ Đề Đạt Ma.
Khi đạt thành chánh quả, theo những người đi trước, tổ sư Đạt Ma muốn truyền bá Phật giáo khắp nơi. Vào ngày 21-7-518 (sau công nguyên) tổ sư đã vượt biển đến Nam Hải tìm đường sang Trung Hoa.
Sau 9 năm liền lên đênh trên biển với bao sống gió hãi hùng, ngày1-10-527 (sau công nguyên) tổ sử đến được tỉnh Quảng Châu thuộc Trung Hoa ( lúc bấy giờ là đời nhà đường), tổ sư được quan đầu tỉnh Quảng Châu tiếp đón.
Vua nhà đường là Lương Võ Đế hay tin liền cho mời tổ sư về kinh đô ở Kim Lăng để tiếp kiến. Sau một thời gian thuyết pháp tài hoàng cung, tổ sư nhận thấy vua Lương Võ Đế và tất cả truyều thần là những người rất ngoan đạo. Tuy nhiên, họ không hữu duyên để hiểu hết sự tinh túy và chiều sâu của đạo giáo. Do đó tổ sư đã giã từ vua Lương Võ Đế tiếp tục lên đường truyền đạo. Người dùng công phu lướt trên một công cỏ vược sông Giang Tử đi về phía Giang Bắc, tới thành Lạc Dương. Đến núi Thiếu Thât tổ sư tìm được một ngôi chùa cổ tên là Thiếu Lâm. Tổ sư đã trú ngụ và tu luyện tại đó.
Trong thời gian đầu, tổ sư ngồi quay mặt vô vách đá tham thiền nhập định suốt 9 năm liên tục. Sau 9 năm tọa thiền diện bích, tổ sư bắt đầu thu nhận đệ tử. Người truyền bá môn học tối thượng trong Phật giáo là môn “Thiền tông” cho các môn đồ. Từ đó mở ra một kỷ nguyên mới trong việc tu luyện. Bồ Đề Đạt Ma (Bodhi Dhama) đã trở thành tổ sư của môn thiền tông của Trung Hoa nói riêng và Đông Nam Á nói chung.
Sau thời gian dài truyền bá đạo giáo, võ thuật và thiền tông, ngày 9-10-536 (sau công nguyên) tổ sư từ trần nhầm năm đại Thông thứ 2 (có sách ghi là năm Thiên Giám thứ 2) đời vua Lương Võ Đế thuộc nhà Đương.
2.                  Quá trình phát triển và hình thành có hệ thống của võ công Thiếu Lâm:
Trước khi Đạt Ma tổ sư sang Trung Hoa, võ thuật tại đây đã hình thành, môn đánh nhau bằng tay đã có. Cụ thể vì xã hộ đã phân chia giai cấp. Nhà Đường (518-907) đang ở thời kỳ loạn chiến. Quân độ đã hình thành để phục vụ cho triều đình, cho nhà vua.
Kỹ thuật chiến đấu thời bấy giờ rất đơn sơ, binh khí phổ biến nhất là thương và kiếm nhưng rất hạn chế.
Sau khi truyền bá đạo Thiền, Đạt Ma tổ sư truyền dạy thêm võ thuật cho các môn đồ và phát triển nó một cách có hệ thống. Qua nhiều thế hệ, triều đình đã mời các nhà sư xuống núi huấn luyện cho các đạo quân của triều đình, Dân chúng cũng đua nhau lên núi để học thêm môn võ mới, gừ đó nó trở thành mộ môn học rèn luyện đạo đức cho mọi người. Các nhà sư và các vị chỉ huy vừa truyền dạy võ thuật cho binh lính vừa triển khai thêm các laọi binh khí khác cho quân đội. Môn võ học có hệ thống đó được hình thành và truyền bá ra từ chùa Thiếu Lâm, nên mọi người đạt cho nó cái tên là môn Thiếu Lâm.
Nguyên nhân võ thuật được truyền bá trong Thiếu Lâm tự theo sách “ Thiếu Lâm ứng sự”:
Thiếu Lâm Tự là một ngôi chùa nằm trong vùng hoang vu đa số là rừng, dân cư thưa thớt nên chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh rất lớn. Sau một thời gian thâu nhận môn đồ và truyền dạy môn “Thiền”,Đạt Ma tổ sư nhận thấy tốc độ tiến bộ của các môn đồ rất chậm, do khí lực của họ yếu kém và ngoại cảnh có tác động rất lớn đối với các môn đồ.
Chuyện kể rằng, một hôm tổ ưu bước vô “Thiền phòng” noi các môn đồ đang tĩnh tọa để tập “chế tâm”. Tổ sủ nhận thấy các môn đồ tuy vẫn tĩnh tọa bình thường nhưng sắc diện người nào cũng tái xanh vì tà khí và chướng khí của rừng núi xâm nhập vô kinh mạch trong cơ thể của họ. Các môn đồ vẫn gắng sức chịu đựng, cố chống chọi với khí lạnh đó, học đã không vượt qu nổi, do đó chân khí họ bị hao tổn rất nhiều, tinh thần họ bị tán loạn không thể tiếp tục “thiền”.
Bất thần tổ sư thét lên một tiếng vang dội núi rừng. Sự chấn động do tiếng thét làm ngói trên thiền phòng đổ xuống như mưa, lá cây ngoài rừng bay tơi tả. Nhờ tiếng thét đó mà họ bừng tỉnh lên, thần sắc được khôi phục lại. Trong cơ thể họ chân khí lưu thông điều hòa trở lại, nên nét mặt mộ số môn đồ hồng hào như xưa. Tuy nhiên, một số môn đồ khác do thể chất và nguyên lực yếu kém, chịu đựng không nổi với tiếng thét đó đã ngã dra bất tỉnh ngay trong thiền phòng.
Tổ sư nhận thấy khí lực các môn đồ của ông chưa được thâm hậu. Điều này sẽ gây không ít khó khăn cho việc tu luyện. Từ đó tổ sư bắt đầu truyền dạy cho các môn đồ một phương pháp vận động tay chân, vận động gân cốt. Phương pháp đó giúp cho các môn đồ chống lại sự mệt mỏi sau khi thiền. Nó giúp cho việc tu luyện cảu các môn đồ được hoàn hảo hơn.
Môn vận động mà tổ sư truyền dạy cho các môn đồ là “Dịch cân pháp” và “Tẩy tủy pháp”. Để bảo vệ sơn môn chống lại bọ trôm cướcp, thú dữ… và tọa sức khỏe cho các môn đồ. Tổ sư truyền thêm “Thất thâpọ nhị huyền công” gồm 72 thế và “thập bát la hán thủ” gồm 18 thế cho các môn đồ.
Khi rèn luyện các môn trên, môn sinh sẽ có được sức mạnh, bản lĩnh hơn người, dũng cảm vượt khó. Tất cả các điều trên là căn bản cho việc tu luyện và truyền bá đạo giáo.
Từ đó võ thuật trung hoa bắt đầu được truyền bá có phương pháp có bài bản và có hệ thống. Các bài học cơ bản của Đạt Ma tổ sư đã trỡ thành nền tảng cho việc phát triển nền “quyền thuật” tại Trung Hoa.
Khi tổ sư qua đời, các nhà sư thiếp tục phát triển môn Thiếu Lâm. Chế mộc bản để in lại các phương pháp vận động của tổ sư thành sách gọi là “Dịch cân kinh” và “tẩy tủy kinh”.
Vậy Đạt Ma tổ sư đã góp phần rất lớn trong việc hình thành nền “quyền thuật” tại Trung Hoa làm nền tảng cho môn “công phu” . Công phu là đỉnh cao của quyền thuật. Do đó ông bà ta mới có câu:

“Lực bất như quyền
Quyền bất như công”
Chú thích: 
·         Dịch cân pháp:
Chữ pháp ở đay có nghĩa là phương pháp, là cách thức hoạt động
Dịch: là dịch chuyển, là vậy động.
Cân: tức là gân cốt của ta.
Vậy “Dịch cân pháp” có nghĩa là một phương pháp vận động nhăm làm chuyển dịch gân cốt. Đây là một dạng bài tập tạo sức nhận thấyđược gân cốt chuyển động ra sao. Đã có một số sách viết ra bài này nhưng chòn thiếu phần bổ sung kinh nghiệm nên ta khó tập thành công.
·         Tẩy tủy pháp:
Tương thự như trên “tẩy” có nghĩa là làm cho sạch sẽ. “tủy” là phần lõi bên trong của xương, nó là phần quan trọng nhất tạo nên tinh, để từ tinh hóa khí, và từ khí hóa thần tạo sức lực cho chúng ta. Nếu tủy trong sạch thì tinh tốt không phát sinh dục vọng sẽ làm cho thần sắc ta được huy hoàng. Do đó “Tẩy tủy pháp là phương pháp tập luyện nội tâm được trong sạch.
Tóm lại, “dịch cân” để vận động gần ngoài xương và “Tẩy tủy” để làm sạch bên trong xương, lúc đó gân xương tủy sẽ kết thành khối vững chắc như khối bê tông có lõi bên trong bằng thép vậy.
 “Kinh” ở đay là chỉ sách vở theo kiểu nói thời xưa. Khi các phương pháp đó viết thành sách thì đổi chữ “pháp” thành chữ “kinh” như “dịch cân kinh”, “tẩy tủy kinh”.

IV. Thời kỳ phát triển và hưng thịnh của võ học Trung Hoa và Thiếu Lâm phái
Sau khi Đạt Ma tổ sư sáng lập “Thiếu Lâm phái”, các thế hệ sau tiếp tục truyền bá và phát triển nó. Võ công Thiếu Lâm được truyền bá ra ngoài. Các nhân vật võ lâm căn cứ vào nó để nghiên cưứ và kết thêm những lối đánh mới của các loài mãnh thú, sáng lập ra nhiều môn phái mới.
Sang đời nhà Tống, các môn phái võ phát triển mạnh. Nhiều nhân vật sáng chế nên các lối đánh mới xuất hiện như: Tống Thái Tổ sáng chế ra 32 thế trường quyền làm nền tảng phát triển môn trường quyền.
Đến đời Nam Tống, Nhạc Vũ Mục (tứcNhạc Phi) đã đóng góp thêm nhiều kỹ thuật mới về phép dùng thương và dùng tay không trong chiến đấu. những người đời sau nương theo lối đánh này sáng chế ra bài “Hình Ý quyền” là bài quyền luyện “thần” khởi đầu cho nhu phái.
Đến đời nhà Minh (1368 – 1644) võ thuật tại Trung Hoa phát triển rất mạnh. Nền võ học tại Trung Hoa một lần nữa lại bị chấn động do sự xuất hiện của đạo sĩ Trương Quân Bảo (tức Trương Tam Phong) với lối đánh mềm mại uyển chuyển, “Dụng khí bất dụng lực”.
Do lối đánh của Thiếu Lâm quyền mạnh bạo, buộc người tập phải dùng quá nhiều sức đưa đến việc hao phí sức lực, tự làm suy kiệt cơ thể. Trong một bài quyền sức lực phải dùng quá nhiều đến nỗi có thể làm đứt hơi của võ sinh. Điều này trái hẳn với tinh thần của Phật giáo là tạo sức khỏe để hoàn thiện con người cả tâm hồn lẫn thể xác.
Dựa vào dịch lý và sự biến hóa của vũ trụ, đạo sĩ Trương Tam Phong đã tìm ra một loại quyền thuật mới. Môn quyền thuật này giúp cho việc phát triển cơ bắp và nội tạng. Nguyên tắc của nó là thư giãn tự hiên, hòa mình vào thiên nhiên. Kết hợp rèn luyện nội lực và ngoại lực. Khi tập luyện tuy hướng vô sự mềm dẻo nhưng lúc tự vệ những hối đánh cương mãnh vẫ được sử dụng lúc tấn công. Dựa trên nguyên lý này bài “Thái Cực Quyền” được hình thành và truyền bá tại núi Võ Đương. Các đời sau tiếp tục nghiên cứu và sáng chế thêm hình thành pho “Thái Cực” gồm, Thái cực quyền, thái cực chưởng, thái cực kiếm, thái cực đao…
Các môn phái khác phát triển rất mạnh như môn Thiếu Lâm chưa phát triển. Đến cuối đời nhà Minh, một cao thủ về kiếm thuật và quyền thuật đến tu tại Thiếu Lâm tự đó là Giác Viễn đại sư. Ông nhận thấy môn Thiếu Lâm thiên về sức mạnh, lấy sức thắng sức. Ông bèn sắp xếp lại cấu trúc, cân bằng nội ngoại công phu. Sau đó ông hạ sơn đi chu du các nơi học hỏi, thu thập thêm võ công để sung thêm cho Thiếu Lâm phái. Khi về lại Thiếu Lâm tự. ông mời thêm 2 vị cao thủ nổi danh đương thời là Bạch Ngọc Phong và Lý Tẩu cùng lên Thiếu Lâm tự để nghiên cứu phát triển môn Thiếu Lâm.
Bạch Ngọc Phong khi lên Thiếu Lâm tự đã dựa vào bài “La hán tập bát thủ” chế tác thành 128 thế. Chia chúng ra làm 5 lại bắt nhại theo 5 lại mãnh thú: long, xà, hổ, báo, hạc. Các bài đó có công dụng giúp phát triển sức mạnh cơ thể con người theo 5 phương diện là: lực, cốt, tinh, khí, thần. Sau đó ông chế tác ra thành 5 lại quyền pháp riêng biệt là long quyền, hổ quyền, báo quyền, xà quyền và hạc quyền.
Khi luyện tập 5 lại trên nội tạng cơ thể sẽ được hoàn thiện hơn, chống lại bệnh tật.
Giác Viễn đại sư đống góp các phương pháp luyện công lực giúp cho các bộ phận bên ngoài cơ thể được cứng rắn. Từ đó hình thành các tuyệt kỹ công phu của Thiếu Lâm tự như thiết sa chưởng, nhất dương chỉ…
Kể từ đó võ công của Thiếu Lâm phái bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Càng ngày càng có thêm nhiều người học tập và chế tác thêm làm cho môn Thiếu Lâm ngày càng hoàn thiện. Các tuyệt kỹ công phu, bổ sung cho quyền thuât, được hệ thống hóa đã đưa môn Thiếu Lâm đi lên đỉnh cao. Nó trở thành ngôi sao Bắc Đẩu trong nền võ học.

ĐẶC TRƯNG KỸ THUẬT VÀ ĐIỂM KHÁC NHAU CỦA QUYỀN PHÁP BẮC PHÁI VÀ NAM PHÁI




Trong hệ thống kỹ thuật, võ thuật Bắc phái phát triển ở phía bắc sông Trường giang (hay Dương Tử Giang) và võ thuật phía nam phát triển ở lưu vực sống Châu Giang có sự khác biệt rõ rệt.
Đặc trưng của quyền pháp Bắc phái là: nhu nhuyễn, tự nhiên, động tác lớn mà nhanh, còn nam phái lấy việc cố định phần thân dưới và thực hiện động tác phát lực làm đặc trưng.
Dưới đây là phần giải thích và so sánh cụ thể giữa kỹ pháp của kỹ thuật nam phái và đặc trưng của võ thuật Bắc phái.
Động tác chuẩn bị của bắc phái, hai quyền để ở hai bên hông, phía trên xương chậu. (H.1)
Trong quyền thuật Nam phái, những phái mà có tư thế và động tác kỹ pháp tương đối lớn như Hồng Gia quyền thì vị trí để quyền giống như ở bắc phái, còn những phái với tư thể và kỹ pháp khá nhỏ như Vịnh Xuân quyền thì hai quyền lại thủ ở hai bên ngực (H.2)


 Quyền thuật Nam Phái trước khi diễn luyện (cũng gọi là thao lộ hoặc quyền thao), đa phần phải dùng chưởng trái bao lấy quyền phải và vươn ra trước ngực, độngt ác này gọi là lấy “thiện” (chưởng trái) phục “ác” (quyền phải), một thuyết khác thì hiểu chưởng là chử “nguyệt”(月), quyền là chữ “nhật” (日), gọp lại thì thành chữ “minh”( 明)biểu hiện lòng trung thành với triều Minh. Bắc phái thì không nhất định phải dùng lễ thức này, các môn phái khác nhau tự có những lễ thức khác nhau đặc trưng của riêng mình. (H.3, H.4)




Khi luyện tập võ thuật bước đầu tiên nên bắt đầu luyện tập từ phần thân dưới, trong võ thuật Trung Quốc, quan trọng nhất đó chính là đứng Mã thức hoặc Kỵ Mã thức. Lúc luyện loại tư thế này, nếu phải duy trì thế này trong thời gian lâu, thì gọi là thung pháp hoặc trạm thung. Mã thức của bắc phải là ngón chân hướng về phía trước, hai chân đứng hình bình hành, hơn nữa hai đầu gối cũng không được hướng mở ra ngoài. (H.5)
Mã thức của nam phái và bắc phái tương phản, là mủi chân của hai chân hướng ra ngoài, hai đầu gối cũng hướng mở ra ngoài, dùng lực giẫm xuống đất để bảo hộ tư thế (H.6)


Trong nam phái tùy theo từng lưu phái khác nhau mà cách ngồi mã thức cũng khác nhau, loại tư thế lớn này giữa Hồng Gia quyền và đại giá thức của trường quyền đều giống nhau. Tương phản với lại tư thế này là đoản thủ hiệp mã, còn bắc phái bất luận là môn phái nào đều sử dụng loại tư thế trên.
Phân biệt về cách ra đòn, cách ra đòn của bắc phái là do nữa phần thân dưới đẩy xuất thủ, chuyển trọng tâm, xoay không với biên độ lớn, hình thành tư thế cung thức hay cung tiễn thức rồi mới ra quyền. Bắc phái đại bộ phận đều dùng loại tư thế này, nhưng có một số ngoại lệ như trong Hình Ý, Bát Quái thì không sử dụng tư thế này. (H.7)
Nam phái lại thường dùng bộ thức tam chiến (hay tam triển) để xuất quyền. (H.8)
Đương nhiên nam phái cũng có cung tiễn thức, nhưng tư thế đặc trưng của nam phái vẫn là Tam Chiến (Tam Triển).
Một trong những đặc trưng kỹ thuật của Bắc phái là tiến hành đồng thời kỹ thuật đỡ đòn và kỹ thuật ra đòn. Kỹ thuật giá đả được thực hiện như sau: chuẩn bị tư thế, di chuyển trọng tâm, đẩy nữa phần thân dưới ra trước, đồng thời xoay hông, lấy một tay để đở ở trên, một tay khác không kích (H.9, H.10)

Nam phái là giữ nguyên tư thế chuẩn bị và chỉ xoay hông mà thôi, chiêu thức phân biệt động tác đở và động tác công kích (H.11,12,13)

Qua những giải thích sơ lược có thể thấy được sự khác nhau trong động tác và tư thế. Đương nhiên, ở những mặt khác, quyền thuật Bắc phái và Nam phái cũng có nhiều chỗ khác nhau.
Ví dụ như trong cách chém đao, bắc phái sử dụng tổng hợp các động tác: thân dưới làm trụ, di chuyển trộng tâm, kết hợp hô hấp rồi mới tung đòn ra. Nhưng Nam phái thì hai chân hoàn toàn cố định, chỉ dựa vào động tác xoay lưng với lực của vai và cổ tay để tung đòn.

SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO


          Thể thao là một loại hoạt động có đặc thù riêng. Thể thao sở dĩ gây ảnh hướng rđặc biết đối với sự phát triển các đặc điểm tâm lý của nhân cách là nhờ thể thao có những đặc điểm vốn sẵn có của mình. Những đặc điểm chính trong số các đặc điểm đó là: 1) tính chất thi đấu của cuộc tranh đấu thể thao nhằm đạt kỷ lục hoặc chiến thắng đối thủ, 2) sự căng thẳng tối đa về tất cả các sức mạnh thể lực và tâm lý của vận động viên trong lúc tranh đấu đó, nếu không có sự căng thẳng này thì không thể đạt thành tích kỷ lục, 3) tập luyện thể thao kiên trì, lâu dài, có hệ thống, và việc tập luyện này đòi hỏi phải có sửa đổi đáng kể chế độ sinh hoạt và điều kiện sống.

         Vận động viên thể hiện sự phát triển tiêu biểu ở:

  1.  Sự phát triển thể chất toàn diện trên cơ sở hoàn thiện trong quá trình hoạt động thể thao các chức năng sinh lý quan trọng nhất đối với đời sống cơ thể
  2. Cơ thể có năng lực hoạt động chung đạt mức cao.
  3. Năng lực điều khiển xuất sắc (so với mức độ trung bình bình thường), biểu hiện ở sự hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động và các tố chất kèm theo các kỹ năng đó, kỹ xão đó - sức mạnh, sức bền, sức nhanh và sự phối hợp vận động.
  4. Sự phát triển ở mức cao các quá trình cảm giác, đặc biệt là cảm giác vận động cơ và thị giác, cũng như các quá trình tri giác, khả năng rất cao về nghi nhận và tách biệt những khía cạnh cơ bản của hoạt động cần tiến hành trong môi trường xung quanh và trong những hành vi và hành động của bản thân mihf.
  5. Sự vận động tư duy hoàn thiện - đó là khả năng thực hiện các cử động cần làm dựa vào biểu tượng nhưng vẫn giữ được độ chính xác và hiệu quả cần thiết.
  6. Sự phát triển toàn diện các quá trình chú ý 0 đó là khối lượng chú ý, độ tập trung, phân chia chú ý, độ chú ý bền vững và kéo dài, trong lúc đó vẫn giữ được mức độ cao về quan sát và định hướng trong môi trường xung quanh.
  7. Trí nhớ thị giác và vận động cơ phát triển tốt.
  8. Tư duy thao tác và hành động trực quan bieur hiện qua hoạt động được thực hiện và là yếu tốt quan trọng của hoạt động đó.
  9. Phát triển toàn diện các mặt cảm xúc của nhân cách, có nhiều kinh nghiệm khi bị rung động trong các trạng thái cảm xúc và cảm giác khác nhau có liên quan đến các biểu hiện tích cực của nhân cách, có năng lực cao về điều khiển các trạng thái cảm xúc của mình.
  10. Các mặt ý chí tốt của nhân cách, khả năng chịu đựng những nỗ lực ý chí tối đa để đạt mục đích cần thiết, biết nhanh chóng định hướng và có những quyết định đúng đắn trong các tình huống đòi hỏi phải áp dụng ngay những hành động tích cực.
  11. Các phẩm chất đạo đức - ý chí  của nhân cách: tính kỷ luật, tính kiên quyết, lòng dũng cảm, can đảm, sẵn sàng vượt mọi khó khăn lớn dù là chủ quan hay khách quan.
  12. Các phẩm chất tâm lý - xã hội của nhân cách như tính cởi mở, dễ giao tiếp, tình cảm hữu nghị và đồng chí, giúp đỡ lẫn nhau, lòng vị tha và tôn trọng người khác.
  13. Khả năng đánh giá đúng đắn hành động của những người khác và hành động của bản thân mình, biết lường trước hiệu quả của các hành động đó.


         Trình độ phát triển có năng lực kể trên ở vận động viên các môn thể thao khác nhau là không như nhau. Đó là do tính chất không giống nhau về cơ cấu tâm lý của các môn thể thao khác nhau.

         Cơ cấu tâm lý của hoạt động thể thao bao gồm: 1) các chức năng tâm lý đặc thù và các phẩm chất nhân cách đó liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các hoạt động thể thao, 2) các động cơ kích thích tập luyện và đạt những thành tích cao trong tranh đấu thể thao, 3) tính chất tâm lý - xã hội của các quan hệ giữa vận động viên và những người khác trong quá trình hoạt động thể thao.

         Thỉnh thoảng người ta cho rằng giáo dục thể chất  và thể thao không phải là quan trọng để phát triển đầy đủ nhân cách của con người, vì sự phát triển đó có thể đạt được rất tốt nhờ các hoạt động xã hội quan trong khác như lao động sản xuất, hoạt động chính trị xã hội, hoạt động sáng tạo trong một lĩnh vực nghệ thuật nào đó.

         Tất nhiên không có cơ sở gì để yêu cầu mỗi người phải có những năng lực thể thao cao. Song đối với quá trình hình thành nhân cách nói chung, điều rất quan trọng là ở lứa tuổi nào các nhân tốt này hay khác có thể gây ảnh hưởng thuận lợi nhất để phát triển nhân cách của người đó. Nhiều môn hoạt động và các biểu hiện của nhân cách có liên quan đến môn đó là rất đặc thù đối với những lứa tuổi nhất định. Các bài tập thể chất và thể thao đặc biệt có giá trị để phá triển toàn diện nhân cách ở lứa tuổi thiếu niên và thanh niên. Việc sử dụng đúng phương pháp sư phạm năng lực hoạt động thể chất vốn có của lứa tuổi nào đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các tính chất tâm lý có liên quan đến năng lực hoạt động đó, và trên cơ sở ấy sẽ giúp tốt cho việc tiếp tục phát triển các đặc điểm tâm lý của nhân cách

HÌNH Ý QUYỀN - CHUYỆN LY KÌ VỀ ÔNG TỔ THỰC SỰ CỦA MÔN PHÁI HÌNH Ý QUYỀN



Những tranh cải quanh môn phái lừng danh
Lâu nay nói đến võ thuật Trung Hoa, người ta lập tức nghĩ ngay đến Thiếu Lâm vốn được đất nước tỉ dân này quảng bá như một thương hiệu văn hóa quốc gia nên ít người biết rằng, có rất nhiều môn công phu mà khả năng thực chiến hơn hẳn môn phái Thiếu Lâm lừng danh. Hình Ý Quyền là một ví dụ. Là một trong ba loại quyền pháp nổi tiếng nhất thuộc về nội gia quyền, Hình Ý quyền còn được giới võ lâm trung quốc xếp vào danh sách “Tứ đại danh quyền” của võ thuật truyền thống. Từ đầu thời nhà Thanh, khấp một dải đất rộng lớn từ Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc… không ai không biết đến Hình Ý quyền. Đến đầu thế kỷ 20, Hình Ý quyền đã theo chân Hách Ân Quang, một cao thủ Hình Ý quyền hiện đại vượt biển đến Nhật Bản. bắt đầu từ đó, Hình Ý quyền bắt đầu lan rộng ra nhiều quốc gia Đông Nam Á. Nhật Bản thậm chí là cả nước Mỹ xa xôi. Nhưng cũng vì lan truyền quá rộng với quá nhiều các chi phái, càng về sau này, câu chuyện về nguồn gốc của Hình Ý quyền càng trở nên mơ hồ và rối rắm. Và cuộc tranh luận “Anh sai tôi đúng” chẳng ai chịu ai cho đến tận ngày nay vẫn chưa hứa hẹn một ngày kết thúc.
Trên thực tế, những tranh cãi về Hình Ý quyền là hệ quả của hàng loạt sự nhầm lẫn mà nguyên nhân, như đã nói chính là sự truyền bá rộng rãi cùng với việc tách ghép, thành lập nhiều chi phái khác nhau cùng xuất phát từ môn phái này. Câu chuyện có lẽ phải bắt đầu từ sự ra đời của Nội Gia quyền vào những năm cuối của thế kỷ 19.
Theo những gì sử sách còn chép lại thì vào năm 1894, Bát quái quyền sư Trình Đình Hoa (1848 – 1900) (đệ tử Đổng Hải Xuyên, người sáng lập ra Bát Quái chưởng), Hình Ý quyền sư Lưu Vĩ Lan, Lý Tồn Nghĩa (1847 -1921) và Dương gia Thái Cực quyền sư Lưu Đức Khoan (? – 1911) (Đệ tử  Dương Lộ Thiền) đề nghị hợp ba môn quyền thuật này lại làm một mô phái riêng biết lấy tên là “Nội Gia quyền”… Chính vì sự kiện lịch sử này, Hình Ý quyền, Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng mới trở thành ba môn võ tiêu biểu của “nội gia quyền” như ngày nay chúng ta biết đến. Điều đáng nói là, việc hợp thành một môn phái lấy tên là Nội gia quyền đã khiến cho nhiều nhà lý luận và lịch sử võ thuật khi viết về Nội gia quyền đã đánh đồng môn phái Nội gia quyền hiện đại với quyền pháp nội gia quyền của phái Võ Đang do Trương Tam Phong sáng tạo ra. Và cũng từ đây người ta bắt đầu coi Võ Đang và Trương Tam Phong là thủy tổ và Võ Đang là nơi phát nguyên của Nội gia quyền.
Mọi việc càng trở nên rối rấm hơn, khi trong các bộ quyền pháp của Võ Đang, người ta lại tìm thấy một bộ quyền pháp cũng có tên là hình Ý quyền mà ngày nay vẫn gọi là Hình Ý quyền Võ Đang. Điều này đã cũng cố  thêm cho quan điểm, Hình Ý Quyền cũng như các môn võ Nội gia khác có nguồn gốc từ Võ Đang, đối lập với môn phái Thiếu Lâm, vốn là đại biểu của trường phái Ngoại gia. Người ta càng tin chắc rằng chính tổ sư phái Võ Đang Trương Tam Phong chính là người đã sáng tạo nên môn công phu nổi tiếng này. Nhưng mọi chuyện vẫn chưa dừng lại ở đó. Lục lọi sách vỡ và các câu chuyện kể lưu truyền trong dân gian, người ta còn tìm thấy một bộ quyền pháp cũng mang tên Hình Ý quyền do Nhạc Phi, một danh tướng đời Tống sáng tạo nên. Và hiễn nhiên Nhạc Phi cũng trở thành một thủy tổ của Bộ quyền pháp mà sau này lưu truyền vô cùng rộng rãi.
Một thuyết khác lại cho rằng, Hình Ý quyền thực chất là một môn võ lưu truyền trong dân gian của một bài quyền có tên gọi là Tâm Ý bả. Theo thuyết này thì Tâm Ý bả là một trong những bài quyền xuất hiện rất sớm tại chùa Thiếu Lâm trên đỉnh Tung Sơn, Hà Nam từ khi chùa mới được thành lập vào thời nhà Bắc Ngụy (384 -534) dưới triều Hiếu Văn Đế (471 – 499). Người ta đã tìm thấy rất nhiều điểm tương đông giữa Hình Ý quyền chính tông và bài quyền Tâm Ý Bả trên Thiếu Lâm Tự. Hơn thế nữa, cả hai bộ quyền pháp này đều có nội dung phù hợp với phong thái cũng như nội dung của giáo pháp Thiếu Lâm Quyền, đề cao sự hòa hợp Thân – Tâm trong nội dung giáo lý của Phật giáo Thiền tông.
Thế là một môn tuyệt kỹ có đến tận 3 nguồn gốc với ba người sáng lập khác nhau mà người nào cũng có vô số những tín đồ trung thành sẵn sàng bảo vệ đến cùng cho những tín niệm của mình. Có điều, sự thực, người sáng tạo ra Hình Ý quyền lại hoàn toàn không phải là những vị đại sư danh giá lừng lẫy mà người ta đem ra để tranh cãi.
Truyền thuyết về ông tổ thực sự của Hình Ý quyền.
Người sáng lập ra Hình Ý quền trên sự thực là Cơ Tế Khả, một sư sỹ ở tỉnh Sơn Tây sống vào thời kỳ cuối Minh đầu Thanh. Lần theo những gh chép của các chi phái Hình Ý quyền ở Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, người ta phát hiện ra rằng, dù tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau nhưng các bộ quyền pháp hình Ý quyền hiện đại đều có gốc gác từ bộ quyền pháp mang tên Lục Hợp Quyền có nguồn gốc từ Sơn Tây mà ông tổ của bộ quyền pháp này, theo những ghi chép chính xác từ sử liệu chính là Cơ Tế Khả.
Cơ Tế Khả (1602 – 1683), tự là Long Phong, người huyện Bồ Châu, tỉnh Sơn Tây. Ngay từ khi còn rất nhỏ, Co tế khả đã thích côn quyền cước pháp. Bồ Châu, sơn Tây là một vùng đát chuộng võ thuật nên người luyện cũng như người dạy võ nhiều không kể hết. Từ khi lên 5, Cơ Tế Khả đã được gia đình mời thầy dậy võ nổi tiếng trong vùng về tận nhà chỉ điểm. Thế nên, trong suốt nhiều năm tuổi thơ, cậu bé Cơ Tế Khả vẫn ngày luyện võ, đêm học Thi Thư. Nhờ dụng công học tập, lại thông minh đĩnh ngộ hơn người, không lâu sau đó, Cơ Tế khả đx trở thành một thành niên văn võ song toàn.
Chuyện kể rằng, một ngày, cậu thanh niên cường tráng nhà họ Cơ đang luyện võ bên bờ sông Hoàng Hà thì không biết một ông lão râu tóc bạc phơ từ đâu xuất hiện. Thấy cậu thanh niên trẻ trung, tráng kiện đang hăng say luyện quyền cước, ông lão chống gậy đứng lại chăm chú nhìn từ động tác. Rồi vừa vuốt râu vừa gật đầu mỉm cười, ông lão đã đứng yên ở một góc xem Cơ Tế Khả luyện Chín chín tám mươi mốt lần bài quyền cho đến khi toàn lưng cậu ướt đẫm mồi hôi. Đến khi Cơ Tế Khả dừng lại nghĩ, ông lão mới nhẹ nhàng vuốt chòm râu bạc nói: “Chàng trai trẻ! Ta đứng đây từ nãy xem cậu luyện võ, thấy quyền cước của cậu cũng không tệ đâu, căn cơ cũng có thể coi là chắc chắn rồi. Có điều nhãn thần của cậu thì hơi kém. Tốt nhất là cậu nên vào cái hồ ở trong thôn mà rửa mắt đi rồi hãy luyện tiếp”.
Nghe ông lão nói, Cơ Tế Khả cũng bán tín bán nghi nhưng nghĩ rằng mình luyện tập đã mệt, mồ hôi ướt đẫm cẩ áo nên quyết định làm theo lời của ông lão ra hồ nước của thôn rữa mũi và mắt. Đến khi Cơ Tế Khả quay lại bãi đất ven sông thì ông lão tóc bạc đã đi tự khi nào. Trong lòng chàng trai trẻ Cơ Tế khả bỗng nhiên có chút hoài nghi, Bèn theo lời ông lão thử đi một vài đường quyền. Vừa mới vung tay, Cơ Tế Khả đã cảm thấy quyền pháp của mình trở nên linh hoạt và mạnh mẽ hơ hẳn so với một lúc trước đây. Đến lúc đó, Cơ Tế Khả mới giật mình: “đây chính là dị nhân đã chỉ điểm, dạy cho ta bí quyết luyện quyền pháp rồi!”. Từ đó trở về sau, hàng ngày Cơ Tế Khả vẫn theo thói quen đến bến sông Hoàng Hà để luyện tập võ nghệ. Nhưng khác với trước đây, sau khi luyện công xong, Cơ Tế Khả lại vòa thôn lấy nước hồ rửa mắt. Càng luyện, Cơ Tế Khả càng thấy võ công của mình tăng tiến vượt bậc. không chỉ quyền pháp trở nên mạnh mẽ linh hoạt mà công lực cũng tiến bộ hơn rất nhiều so với trước đó. Cũng trong thời gian ấy, Cơ Tế Khả luyện thành công phu “Phi mã điểm duyên đầu” (cưỡi ngựa chọc xà nhà) độc nhất vô nhị, khiến nhiều người phải thán phục. Mình cưỡi ngựa, tay cầm thương, Cơ Tế khả phóng như bây trên đường rồi dùng thương chộc vào những xà nhà lộ ra dưới mái hiên. Thương pháp của Cơ Tế Khả tinh diệu đến mức, ông muốn dùng thương đâm vào chiếc xà nào là đâm trúng mà đều là đâm trung tâm của cây xà. Hơn nữa, những chiếc xà bị đâm trúng không chiếc nào còn nguyên vẹn dưới ngọn thương cường mãnh của ông. Cũng nhờ quyền pháp hơn người, thương pháp lại tuyệt luân khó bì,nên những cao thủ trong vòng trâm dặm ai cũng ngưỡng mộ Cơ Tế Khả là “thần thương tiêu tướng”
Là một cao thủ thân đầy võ nghệ thế nhưng Cơ Tế Khả hoàn toàn không phải là kẻ võ phu, hữu dũng vô mưu. Ngày luyện võ, đêm học Kinh Thư, rùi mài kinh sử nên ngoài võ công hơn người, Cơ Tế Khả còn là một người mang nặng ảnh hưởng của nền giáo dục Nho gia truyền thống. Chính vì thế , sinh ra và lớn lên trong thời kì người Mãn tấn ông Trung Nguyên, lật đổ nhà Minh , thành lập nên đế chế Thanh triều của Người Mãn, Cơ Tế Khả là một trong những nhân sỹ Hán tộc mang tư tưởng phản Thanh phục Minh rất mạnh mẽ.
Sau khi thiết lập sự cai trị của chính quyền Thanh triều, tầng lớp quý tộc Mãn tộc đã ra sức bóc lột áp bức những người Hán, Khiến mâu thuẫn dân tộc Hán – Mãn trở nên căng thẳng. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt  những cuộc khởi nghĩa phản Thanh phục Minh trong suốt nhiều chục năm đầu sau khi nhà Thanh được thành lập. Cơ Tế Khả cũng là một người tham gia tích cực trong những hoạt động chống đối triều đình ngoại tộc này. Rời bỏ quê hương Sơn Tây, Cơ Tế Khả đi khắp nơi trong cả nước tìm kiếm kế sách diệt Thanh phục Minh.
Một lần, trên đường đến Hà Nam, khi đến ngọn núi Trung Điều, nơi giáp ranh giữa Bình Lục và Nhuế Thành, Cơ Tế Khả đã gặp phải một khe núi sâu ngăn lối đi. Trời sắp tối không thể quay trở lại được nữa, Cơ Tế Khả quất ngựa phóng lên phía trước định nhảy qua khe núi sâu. Không may, con ngựa sợ bóng tối nhẩy không đủ lực, trượt chân ngã xuống khe núi. Trong tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc đó, Cơ Tế Khả vẫn không haong mang. Buông dây cương, hai tây chống lên lưng ngựa rồi tung người lên phía trên. Sau cú xoay người ngoạn mục, Cơ Tế Khả đã nắm được một cành cây nhỏ mọc ra trên vách đá cheo leo giữa khe núi sâu, thoát chết chỉ trong gang tấc. Trong đêm đó, Cơ Tế Khả đến Hà Nam bình yên vô sự.
Vào thời điểm đó, Thiếu Lâm Tự ở Tung Sơn Hà Nam là một trong những căn cứ lớn của lực lượng kháng Thanh phục Minh. Thời ấy, do nhu cầu lực lượng cho các cuộc khởi nghĩa, việc chiêu mộ môn đồ của Thiếu Lâm Tự lấy cuộc đấu tranh kháng Thanh làm mục tiêu hàng đầu. Nhưng cũng vì tham gia cuộc kháng Thanh này mà Thiếu Lâm Tự một lần nữa vang danh thiên hạ.
Cơ Tế Khả ở tận Sơn Tây nghe tiếng Thiếu Lâm Tự là nơi những người có chí kháng Thanh thường xuyên lui tới mới không quản ngàn dặm xa xôi tìm đến chốn thánh địa của võ lâm này. Tại đây, Cơ Tế Khả đã quen biết rất nhiều các chí sỹ cùng chí hướng Họ cùng nhau sống ở Thiếu Lâm Tự, bàn chuyện chính sự, giao lưu võ nghệ, mư tính đại sự phục hưng một ương triều đã sụp đỗ mà họ một lòng trung thành. Ở Thiếu Lâm tự, với võ công hơn người, lại am tường kinh sử, Cơ Tế Khả nhận được sự tán thưởng của không ít tăng nhân Thiếu Lâm, các môn sinh Thiếu Lâm Tự cũng như các cao thủ võ lâm thường xuyên lui tới. Sau đó ít lâu, người ta tôn Cơ Tế Khả lên hàng phu tử và yêu cầu ông dạy võ cho những môn sinh tìm đến Thiếu Lâm theo tiếng gọi kháng Thanh phục Minh.
Có cơ hội cọ xát với võ nghệ tinh diệu của Thiếu Lâm Tự, vùng đất thánh của võ lâm cùng rất nhiều các môn phái trên khắp cả nước đã giúp võ công của Cơ Tế Khả một lần nữa đại tiến. Là người có chữ nghĩa, ngoài việc rèn luyện trao đổi võ công, Cơ Tế Khả không ngừng mày mò, tìm hiểu những chổ yếu của bản thân để sửa đổi, bù lấp. Và cuối cùng, sau nhiều năm mày mò nghiên cứu, Cơ Tế Khả đã sáng tạo nên bộ quyền pháp Hình Ý quyền nổi tiếng sau này.
Câu chuyện về sự ra đời của Hình Ý quyền có đôi chút ngẫu hứng và ly kỳ. Người ta kể rằng, sau đó, Cơ Tế Khả nổi tiếng với thương pháp đặc biệt là công phu “Điểm duyên công” (chọc xà nhà), sau gọi là Lục Hợp Thương. Nhưng vì khi đó, phong trào khởi nghĩa kháng Thanh phát triển quá mạnh mẽ, nên triều đình nhà Thanh quyết định ra lệnh cấm không cho người dân cất giữ vũ khí trong nhà, thương pháp tuyệt luân của Cơ Tế Khả trở thành thanh kiếm báu không tìm được đất dụng võ. Không muốn mai một bộ thương pháp tuyệt luân của mình, trong suốt thời gian ở Thiếu Lâm Tự dạy võ, Cơ Tế Khả vẫn trăn trở tìm cách truyền thụ Lục Hợp Thương cho hậu thế.
Một ngày, đang luyện công trước cửa đại điện, Cơ Tế Khả bỗng nhìn thấy ngoài sân có hai con gà trống đang đánh nhau. Nhìn hình tư thế của hai con gà trong trận ác chiến, Cơ Tế Khả như bi mê hoặc, không dứt ra được. Đột nhiên, một linh cảm bỗng đến với Cơ Tế Khả.Ông nghĩ, cổ nhân đã ừng sáng tạo nên Ngũ Cầm hý chẳng phải cũng lấy ý tưởng từ những cuộc ác đấu giành sự sống của các loài chim trong thế giới tự nhiên đó sao? Vì sao ta không thể sáng tạo nên một bộ quyền pháp kết hợp giữa Lục Hợp thương với thế đánh của con gà trống kia? Nghĩ vậy, Cơ Tế Khả bắt đầu quan sát kỹ lưỡng các thế đánh của con gà rồi tìm cách kết hợp với Lục Hợp thương tinh xảo của mình để sáng tạo nên một bộ quyền pháp mới. Sau đó, ông còn kết hợp luôn 5 loại quyền pháp Thiếu Lâm mô phỏng thể đánh của các loài thú trong tự nhiên như Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc và cuối cùng đã sáng tạo nên một bộ quyền pháp độc đáo riêng của mình. Ban đầu, Cơ Tế Khả đặt tên cho bộ quyền pháp này là Hình Ý Lục Hợp quyền, tức “Tâm hợp với ý, ý hợp với khí, khí hợp với lực, vai hợp với hông, hông hợp với chân, tay hợp với chân”.
Sau khi Cơ Tế Khả sáng tạo nên Hình Ý lục Hợp quyền, để truyền bá rộng rãi bộ quyền pháp của chính mình ngay trên mảnh đất thánh của võ lâm Thiếu Lâm Tự là điều hoàn toàn không dễ. Chính vì vậy, khi đó, Cơ Tế Khả đã tuyên truyền rằng, trong tời gian bôn ba khắp nơi, ông ta từng bái sư ở núi Chung Nam và ngẫu nhiên có được cuốn quyền phổ bí truyền của Nhạc Vũ Mục, tức Nhạc Phi, một danh tướng chống Kim nổi tiếng thời Nam Tống. Với danh nghĩa Nhạc Phi, một người được người dân Trung Quốc cũng như những người yêu võ thuật sùng bái như một vị thánh của “lòng tinh trung báo quốc” nên tại thời điểm đó, Hình Ý Lục Hợp quyền của Cơ Tế Khả được rất nhiều người theo học. Đây cũng chính là lý do vì sao, sau này nhiều người lại tìm thấy quyền pháp Hình Ý quyền như một tuyệt kỹ bí truyền của vị danh tướng đời Tống, Nhạc Phi. Ngoài ra, việc Cơ Tế Khả sống và dạy võ suốt một thời gian dài ở Thiếu Lâm Tự cũng là nguyên nhân dẫn đến việc người ta tìm thấy bộ quyền pháp tướng đối giống với Hình Ý quyền, và cho rằng Hình Ý quyền bắt nguồn từ môn phái Thiếu Lâm.
Cuộc phiêu lưu rắc rối của tuyệt kỷ Lục Hợp quyền.
Hơn 10 năm sống ở Thiếu Lâm Tự với hùng tâm tráng chí về một ngày phục dựng lại vương triều nhà Minh nhưng nhìn cảnh giang sơn nhà Thanh ngày một được củng cố vững chắc, cái hùng tâm tráng hí xưa kia dần tan biến như bong bóng. Chẳng thể nào làm khác được nữa, Cơ Tế Khả đành rời Thiếu Lâm Tự trở về quê hương, ở võ quán thu nhận đệ tử, truyền dạy võ công, sống qua quãng đời còn lại. Hình Ý Lục Hợp quyền cũng từ đây bắt đầu cuộc phiêu lưu rắc rối làm điên đầu nhiều nhà nghiên cứu sau này.
Ngoài truyền dạy Hình Ý Lục Hợp quyền cho 6 người con của mình, Cơ Tế Khả còn truyền môn tuyệt kỹ này cho 2 người ngoại tộc là Tào Kế Võ. Tào Kế Võ là một vị danh tướng làm quan dưới triều Hoàng đế Khang Hy nhà Thanh. Sau này, Tào đem bộ quyền pháp này dạy lại cho hai anh em Đới Long Bang và Đới Lăng Bang, đều là người tỉnh Sơn Tây và một người Hà Nam khác tên là Mã Học Lễ. Từ hai nhân vật Đới Long Bang và Mã Học Lễ, môn phái Hình Ý Lục hợp quyền bắt đầu phân chia thành nhiều nhánh khác nhau.
Từ Mã Học Lễ, bắt đầu chi nhánh Hình Ý Lục Hợp Quyền Hà Nam, lấy tên là Tâm Ý Lục Hợp Quyền. Mã Học Lễ chỉ lưu truyền môn võ này cho những người theo đạo Hồi. Sau này Lự Khao Cao là người đầu tiên không phải người Hồi được học Tâm Ý Lục Hợp quyền.
Trong khi đó, Đới long Bang dạy Hình Ý Lục Hợp quyền cho hai con là Văn Lương và Văn Huân và một người ngoại tộc là Lý Lạc Năng, còn được gọi là Năng Nhiên. Đới Văn Lương và Đới Văn Huân chỉ truyền dạy cho con cháu, không truyền Hình Ý Lục Hợp quyền ra bên ngoài. Mãi tới Đới Khôi, do không có con trai nên mới chịu truyền môn võ này cho người ngoài. Từ đó, Hình Ý Lục Hợp quyền chi phái Sơn Tây mới phổ biến với tên gọi là Tâm Ý quyền.
Một nhánh khác bắt nguồn từ đệ tử ngoại tộc của Đới Long Bang là Lý Lạc Năng. Lý Lạc Năng vốn là người Hà Bắc, nên sau khi đến Sơn Tây theo học Đới Long Bang, Lý trở về quê thu nhận đệ tử truyền dạy võ công. Từ đó, một nhánh khác của Hình Ý Lục Hợp quyền mới bắt đầu thịnh truyền ở Hà Bắc với tên gọi là Hình Ý quyền. Do truyền bá rộng rãi, môn phái của Lý Lạc Năng được nhiều người biết tới hơn hai chi phái Tâm Ý quyền của Sơn Tây và Tâm Ý Lục Hợp quyền ở Hà Nam. Sau này, nhiều đệ tử của Hình Ý quyền đều là những võ lâm cao thủ nổi tiếng trong khắp cả nước vì vậy, tên gốc của Hình Ý Lục Hợp quyền mà Cơ Tế Khả sáng tạo ra dần dần được nhiều người gọi là Hình Ý quyền theo tên gọi của chi phái Lý Lạc Năng sáng tạo nên. Lý Tồn Nghĩa, người sau này đã “có công” hợp nhất ba môn phái Hình Ý quyền, Bát Quái chưởng và Thái Cực Quyền, sáng lập nên môn Nội Gia quyền chính đồng thời tạo nên sự nhầm lẫn và những cuộc tranh cãi không ngớt sau này chính là đệ tử của Lưu Kỳ Lan, một trong 8 đại đệ tử chính tông của Lý Lạc Năng. Nói cách khác, môn Hình Ý quyền Hà Bắc thịnh truyền ngày nay trên thực tế là một trong ba chi phái của Hình Ý Lục Hợp quyền có nguồn gốc từ Cơ Tế Khả cùng với Tâm Ý quyền ở Sơn Tây và Tâm Ý Lục Hợp quyền ở Hà Nam.
Chiến đấu pháp của Hình Ý quyền có thể tóm gọn trong hai câu: “khoái công trực thủ, hậu phát tiên chí” (tấn công nhanh trên đường thẳng, đi sâu tới trước), “thiếp thân kháo đả, dĩ đoãn chế trường” (đến sát thân ddihj vừa hất vừa đánh, dùng đòn ngắn thắng đòn dài). Những môn đồ của Hình Ý quyền chuyên đánh trên đường thẳng, nhập vào trung môn, nên không cho địch thủ có cơ hội phát triển đòn công và tuy ra đòn sau nhưng đòn lại tới trước. tuy nhiên mỗi chi phái lại có mang một đặc điểm đấu pháp khác nhau.
Chi phái Hà Bắc đòn thế ngắn gọn, đơ giản dựa trên 17 thế căn bản của Ngũ Hành quyền và Thập Nhị Hình quyền. Chi phái Sơn Tây gần với chi phái Hà Bắc hơn. Các bài quyền của chi phái này bao gồm Ngũ Hành Quyền, Thập Đại Hình, Giao Tế tứ bả, Ngũ Thãng hạp thế… chi phái Hà Nam thì khác hẳn hai hệ phái trên, đòn thế rộng hơn, mạnh bạo hơn, căn bản chỉ có Thập Đại Hình quyền, Quyền thuật có những bài như Thập Đại Hình, Tứ Bả trùy…
Điều đáng nói là mặc dù là một môn phái có nguồn gốc từ miền Bắc Trung Quốc, nơi võ thuật rất chú trọng và phát triển cước pháp nhưng Hình Ý quyền lại chủ yếu phát triển quyền pháp với những đòn thế đơn giản và mạnh bạo. Những đòn chân trong Hình Ý quyền thường không ao quá bụng, nhưng chắc chắn và cương ngạnh. Cũng có lẽ vì lý do này Hình Ý quyền vẫn tồn tại trong làng võ như một đóa kỳ hoa hàm chứa nhiều bí ẩn.

(P2) HỌC CHIÊU THỨC VÕ THUẬT



Các chiêu thức có các độ khó và độ dài khác nhau. Trong hầu hết các môn phái, thứ tự học và dạy các chiêu thức hầu như là tiêu chuẩn có tính cố định qua các thế hệ truyền dạy. Những người mới bắt đầu học những chiêu thức ngắn và đơn giản, dần dần sẽ học các chiêu thức dài hơn và thách thức hơn. Mạc dù như vậy, cũng như với môn nghệ thuật khác như nhạc, khiêu vũ, các cao đồ có thể thấy chiêu thức đơn giản cũng là một thách thức khi họ hiểu sâu sắc hơn và kỹ năng của họ đã phát triển cũng như hiểu biết của họ đã được đào sâu hơn.



Người mới bắt đầu có thể được học những chiêu thức ngay từ những ngày đầu, mặc dù, tất nhiên, còn tùy môn phái, tùy trường, tùy sư phụ, cũng như tùy khả năng của môn sinh. Lúc đầu môn sinh sẽ được học những chiêu thức đơn giản có ít động tác và kỹ thuật ít phức tạp. Ở giai đoạn này, các môn sinh sinh không chỉ học những động tác cá nhân mà còn cố gắng làm quen với tên gọi của chúng (như mã tấn, đấm chặn, đá, đẩy…). Học tên của chiêu thức thực sự rất quan trọng ở giai đoạn này, và cần quan tâm đến mối liên hệ của tên gọi với động tác. Học những tên này sẽ giúp học các chiêu thức phức tạp được dễ dàng hơn, giống như bạn đã tự đặt một cái tên ở trong tâm trí của mình cho một động tác cần phải nhớ. Ngoài ra, khi sự phụ sửa cho bạn, bạn cũng sẽ biết ông ấy đang nói về cái gì. Đối với các võ sư, tên của các động tác và chiêu thức là một điều tự nhiên, có thể họ đang cố gắng giúp bạn và sửa lại cho bạn bằng cách gọi tên những động tác đó. Khi bạn đã có thể hiểu và đáp ứng ngay lập tức thì mọi thứ sẽ suôn sẽ hơn.
Trong khi học những chiêu thức mới có một vài lưu ý cho các bạn như sau:
1.      Ghi nhớ chiêu thức: Bước đầu tiên là phải ghi nhớ thự tự của các động tác. Chỉ cần học thứ tự này. Bạn phải tập từ đầu đến cuối không ngừng giữa chừng. Hãy luyện tập cho đến khi nào thứ tự này trở thành tự động.
2.      Giữ thăng bằng tốt và hài hòa, chú ý sự kết hợp và thời gian: một khi bạn đã biết được thứ tự, hãy cố gắng luyện giữ thăng bằng và sự hài hòa. Lúc nào chân cũng phải vững vàng, bất kể có giữ trọng tâm hay không. Bạn cần cảm thấy vững vàng, trong khi đầu, xương sống và thân dưới trên cùng đường thẳng. Nếu có gương, hãy dùng gương để chỉnh lại tư thế của mình. Thường xuyên dừng lại giữa chiêu thức để kiểm tra – xương sống có thẳng không? Vai có buông lỏng không? Chân có chạm đất không? Nên lưu ý đến tay và chân có tương quan với nhau. Cái nào di chuyển trước? chúng có di chuyển cùng lúc hay không ? thời gian và sự kết hợp một phần là kết quả của việc ứng dụng mà bạn sẽ tập trung luyện ở giai đoạn kế tiếp.
3.      Học cách ứng dụng: Sau khi ghi nhớ chiêu thức, đứng tấn vững, giữ thân người và các chi đúng tư thế, tiếp theo bạn cần phải hiểu được ý nghĩa của các động tác trong khi có đối thủ tưởng tượng trước mặt. Phần này gọi là “ứng dụng”. Hiểu được ứng dụng sẽ cho phép bạn điều chỉnh kết hợp tay chân, và bạn sẽ có thể di chuyển một cách thông minh hơn – nghĩa là thực hiện chiêu thức như thể bạn đang thực sự đánh, tấn công hay khóa đối phương. Chiêu thức mà bạn thực hiện vì thế có ý nghĩa hơn cũng như duyên dáng và đầy kình lực. Thường thì sự phụ sẽ biểu diễn các ứng dụng của mỗi động tác của một chiêu thức với các sư phụ khác hay với các môn sinh khác. Hãy chú ý kết hợp tay và chân. Cái nào di chuyển trước? có di chuyển cùng lúc hay không? Nói chung, chân bao giờ cũng di chuyển trước tay. Người học võ có câu: “bộ đáo thủ bất đáo, đả nhân đả bất đảo. Thủ đáo bộ bất đáo, đả nhân như bạt thảo” (nếu chân đến mà tay không đến, đánh người người không ngã. Nếu tay đến chân không đến, đánh người như quét qua ngọn cỏ). Cách duy nhất học kết hợp chân tay là qua quan sát. Bạn phải tập trung đặc biết để phát triển được sự hiểu biết thể chát về cách cảm nhận và thực hiện trôi chảy những động tác khi bạn thực hiện chiêu thức.
Sau khi xem thầy hướng dẫn, hãy tìm người cùng tập và bắt đầu tự tập luyện. Hãy cố gắng cảm nhận “chặn”, “tấn công bằng khủy tay”, hay “tấn công vào bụng” thực sự là như thế nào trong khi luyện theo cập và khi nhận phải những đòn tấn công đó thì ra sao. Một khi bạn có thể mường tượng được các độngt ác của chiêu thức trong khi phản ứng lại đòn tấn công của đối phương – chặn đòn tấn công, đấm vào nơi sơ hở, tiến lên trước tấn công hay lùi lại tránh một cú đá – thì sự kết hợp tay chân sẽ trở thành tự nhiên, và bán sẽ có thêm những hiểu biết bên ngoài về ý nghĩa của những việc đang làm.
4.      Luyện chuyển động tác một cách trôi chảy: Tiếp theo, hãy tập trung vào sự trôi chảy. Bạn đã học kỹ và thực hiện từng động tác một cách thành thục và chính xác, đã hiểu được mục đích và sự kết hợp của chúng, bay giờ hãy nối các động tác đó lại cho thành một khối và duyên dáng sao cho toàn bộ chiêu thức đó diễn ra trôi chảy từ đầu đến cuối. Khi đã trôi chảy sẽ có kết hợp của tình cảm và năng lượng. Khi một động tác liên tiếp động tác khác một cách tự nhiên thì chúng bổ trợ cho nhau và có thẻ truyền được kình lực tối đa khi ứng dụng. Đồng thời, đừng quên những bài học trước: tấn luôn vững như cắm rễ vào đất. Đừng vội vàng thực hiện động tác hay cắt bớt các động tác. Hãy kết thúc động tác này trước khi bắt đầu động tác kế tiếp. Nhớ kết hợp tay và chân. Nhưng bây giờ hãy nối kết các động tác theo thứ tự trôi chảy. Hãy làm sao cho hầu như không còn nhận ra khoảng cách giữa các động tác. Để dạy chiêu thức, các sư phụ đã phải chia ra thành những bước nhỏ, bây giờ hay xóa đi những bước ngăn cách này và làm cho chiêu thức trở nên liên tục.
5.      Phát triển kình lực và tốc độ: Cuối cùng – khi đã nắm vững tất cả những bước trên, bạn hãy chú ý kình lực và tốc độ. Khi bạn đã có thể thực hiện chiêu thức một cách chính xác, tự nhiên mà trôi chảy, bạn cũng sẽ có thể làm nhanh chóng với một chút nổ lực mà thôi. Luôn ý thức về ứng dụng, tập trung sự chú ý và ý định của mình để chuyển năng lượng thông qua động tác như dự tính.
Trong tiếng hoa phân bố năng lượng được miêu tả như sau: kỳ căn tại cước, phát vu thoái, chủ tể vu yêu, hình vu thủ chỉ (bàn chân là gốc, chân là nguồn của lực, eo là nơi phát lực, lực hiên ra ở ngón tay)
Hơn thế nữa sự tập trung của năng lượng được lấy ra từ “lục hợp và tam phân”. Lục hợp là sự hòa hợp của các khớp tương ứng: cổ tay và mắt cá chân, đầu gối và khủy tay, vai và hông. Tam Phân tương ứng với 3 khớp điểu khiển quá trình vận chuyển kình lực ở thân trên và thân dưới như sau: kình lực từ vai chuyển qua khủy tay và đẩy ra ở nắm tây, kình lực từ hông chuyển qua đầu gối và đẩy ra ở châ. Chân tạo thế vững, eo duy trì kiểm soát, sự kết hợp hài hòa bảo đảm đẩy toàn bộ kình lực trúng đích.
Vì đây được coi là một lý thuyết khá cao cấp, những người mới bắt đầu chỉ cần lướt qua. Hiểu được cấu trúc của cơ thể cũng là một phần của tập luyện.
        
TẬP LUYỆN
            Qua tất cả những điều trên, một thông điệp duy nhất chúng tôi muốn chuyển đến các bạn là nhấn mạnh tầm quan trọng của tập luyện đối với bất cứ giai đoạn nào. Hãy ôn lại và hãy tập lại. Khi bạn nghĩ không bao giờ hiểu được chiêu thức thì hãy tiếp tục tập luyện. Hãy ôn lại và tập luyện lại. Sự phát triển có tính chu kỳ. Khi bạn nghĩ rằng bạn đã hiểu nó đến mức không thể nào tiến bộ được nữa thì hãy cứ tiếp tục tập luyện, ôn lại và tập lại. Càng tập bạn sẽ càng thấy quen thuộc, càng nhạy cảm và càng cảnh giác hơn. Lúc đó mới chắc chắn thành công.

Ý NGHĨA CÁC CHIÊU THỨC VÕ THUẬT (P1)




CÁC CHIÊU THỨC
Các chiêu thức là cách dạy Kungfu truyền thống. Mỗi chiêu thức giống như khiêu vũ là một loạt các chuỗi ký thuật đấm, khóa, đá và được sắp xếp theo một trình tự. Mỗi môn phái đều có chuỗi chiêu thức riêng, được truyền qua nhiều thế kỷ và từ thế hệ này đến thế hệ khác qua việc dạy dỗ và tập luyện. Sau khi học các yếu tố căn bản của môn phái, những người mới bắt đầu sẽ học chiêu thức và từ đó trở đi, hầu hết phần còn lại của quá trình tập luyện của họ đều là học các chiêu thức khác nhau. Bởi vì các chiêu thức là một phần quan trọng như vậy đối với việc luyện tập kungfu, nên bạn cần phải biết chúng được sáng tạo ra như thế nào và tại sao chúng lại hữu ích, và phải học ra sao.

KHỞI NGUỒN
Các chiêu thức ban đầu của một môn võ cụ hể bắt nguồn từ đâu? Theo truyền thống, các chiêu thức được các võ sư sáng tạo ra dành cho các môn sinh của mình với  mục đích tập luyện hay dạy chiến thuật đánh nhau. Vì thế đối với một môn phái kungfu cụ thể, các chiêu thức là tập hợp của tất cả các chiêu thức được truyền từ thế hệ trước và những chiêu thức mới do các võ sư đương thời sáng tạo. Trong hầu hết các trường hợp, mục đích hay quy tắc chủ đạo trong việc sáng tạo ra một chiêu thức là nhằm giúp các môn sinh tiếp thu và tập luyện nhanh hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn. Theo nghĩa đó, động cơ ban đầu nằm sau mỗi chiêu thức có thể rất riêng, tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân sư phụ hay sự quan sát của các môn sinh.

Các sư phụ có thể nhìn thấy những vấn đề cụ thể mà các môn sinh gặp phải, từ đó tạo ra các chiêu thức mới giúp họ vượt qua những vấn đề đó. Các võ sư cũng sáng tạo ra các chiêu thức để thể hiện những chiến thuật cụ thể của họ. Bằng kinh nghiệm, họ có thể thấy rằng sự kết hợp các chiêu thức nhất định nào đó hoặc chiêu thức nhất định nào đó đặc biệt có hiệu quả và vì thế họ mong muốn được gìn giữ và truyền dạy sự minh mẫn này trong chiêu thức.

Thêm nữa, từ thời nhà Thanh (1644 – 1911), các chiêu thức cũng được sáng tạo để biểu diễn. Trong thời gian này, người Mãn Châu luôn đàn áp các cuộc nổi loạn và đặc biệt nhắm vào các võ sư, cấm tất cả những người Hán không được mang vũ khí và luyện võ. Để che giấu nguồn gốc của mình, rất nhiều chiến binh đã kiếm sống bằng các nhóm sơn đông mãi võ và những người biểu diễn trên đường, và trong những câu chuyện được sáng tạo vào thời này có rất nhiều cảnh đánh nhau. Chỉ bằng cách đó họ mới được luyện võ công khai, nhưng như vậy cũng có nghĩa là các chiêu thức thiên về nhào lộn, giấu dưới lớp võ khiêu vũ và cũng để làm vui lòng khán giả.

Ngày nay các chiêu thức cũng được sáng tạo đặc biệt cho các cuộc thi đấu như Wushu – một môn phái võ hiện đại của Trung Quốc và một cách biểu diễn giải của Kungfu . Các chiêu thức wushu được sáng tạo để thi đấu quốc tế và danh cho các dịp lễ lạt ở Trung Quốc. Các chiêu thức mới này thách thức những người biểu diễn bằng một loạt những kỹ thuật đã được hàn thiện và để đảm bảo rằng người chiến thắng đã thể hiện nghệ thuật của võ học Trung Hoa. Bằng cách sáng tạo chiêu thức mới cho mỗi cuộc tranh tài, Ủy ban Wushu cũng đảm bảo rằng tất cả những người tham dự đều có thời gian tập luyện và thể hiện như nhau. Trong trường hợp này, nắm vững một chiêu thức có nghĩa là thể hiện các kỹ năng và sự khéo léo nhưng không nhất thiết phải là người sẵn sàng chiến đấu như trong Kungfu truyền thống.

TÊN GỌI
Mỗi một chiêu thức đều có tên gọi. Rất nhiều chiêu thức cũ và truyền thống đều có những tên rất thơ mộng, gợi lên hình ảnh của tự nhiên (như: Kim thiền thoát xác, Ngọc nữ xuyên thoa, Hổ Hạc song hình). Mố số chiêu chức lấy tên của người sáng tạo hay theo địa danh nơi lần đầu tiên được giới thiệu (như Lông Hồ cước, Hồng Gia Phái). Tương tự, các động tác tạo ra các chiêu thức cũng có những tên rất thơ (như Hắc Long dao vĩ, Ngạ hạc độc cước, Hồ điệp chưởng), những tên gọi này có những mục đích khác nhau.
  • Trước tiên, các chiêu thức này dễ nhớ hơn vì đặc biệt và nhiều màu sắc.
  • Thứ hai, khi nghe tên gọi của chiêu thức, các môn sinh đặc biệt là những người mới bắt đầu có thể hình dung một vài yếu tố ẩn chứa bên trong và hiểu được cách thực hiện chiêu thức chính xác, đặc biệt là những ten gọi nào gợi lên những hình ảnh gắn với thiên nhiên thể hiện những đặc điểm tự nhiên, duyên dáng và hiệu quả trong các động tác của loài vật.
  • Cuối cùng, và có thể là lý do quan trọng nhất đối với buổi khởi đầu của võ thuật, tên gọi đầy chất thơ như vậy là một dạng mã ngăn ngừa đối thủ học lóm các bí quyết về các chiêu thức. trong khi bạn và các bạn đồng môn có thể biết ngay Liên hoàn hỏa tiễn, nghĩa là gì thì có thể đối với người ngoài sẽ không hiểu gì cả.
  • Ở thế kỷ 20, tên gọi đầy chất thơ như vậy của chiêu thức được thay thế bằng các thuật ngữ có tính miêu tả rõ ràng hơn, ví dụ: Đấm bên phải phía trước ngực, khóa phía trên, đấm xuống v.v.. Ngược lại với thời quá khứ, ngày nay chiêu thức cần được lưu truyền chính xác và hiệu quả trong số đông thay vì giữ bí mật trong một số thành phần ưu tú được lựa chọn kỹ càng.

CÁC CHỨC NĂNG
Chiêu thức có những chức năng quan trọng cho cả võ thuật lẫn võ sĩ.
  1.      Về khía cạnh võ thuật, các chiêu thức giống như là một từ điển bách khoa hay sách hướng dẫn sử dụng các kỹ thuật của một môn phái cụ thể. Trong quá khứ, duy trì được sự thuần khiết và chính xác của một kỹ thuật từ thế hệ này sang thế hệ khác cũng là một vấn đề vừa quan trọng vừa rắc rối. Các môn sinh miệt mài luyện chiêu thức sao cho thật chính xác, và họ biết rằng thực hiện đúng các kỹ thuật là cách duy nhất mà thế hệ tiếp theo có thể học được. Cũng giống như một câu thì dễ nhớ hơn các từ riêng lẻ, các kỹ thuật này được liên kết với nhau theo một thứ tự với ý nghĩa là làm cho các chiêu thức dể nhớ hơn. Vì thế các chiêu thức có chức năng là một phương tiện dễ dàng nhất có được để duy trì được một môn phái và truyền các kỹ thuật này từ thế hệ này sang thế hệ khác.
  2.       Đối với môn sinh, các chiêu thức là một tài liệu tham khảo căn bản đối với việc học của họ. Thêm vào các chiêu thức đã từng và hiện nay vẫn là những tài liệu học căn bản nhất. Kết hợp các kỹ thuật thành một chuỗi sẽ dễ hàng hơn, nếu không muốn nói là làm cho quá trình học thú vị hơn. Sự trôi chảy sẽ giúp cho cơ thể cảm nhận được các động tác, thứ tự lớp lang sẽ giúp cho không có kỹ thuật nào bị bỏ qua hay tập luyện quá mức. Đồng thời, các chiêu thức cũng làm cho sự phụ dạy dễ hơn. Ở tất cả các môn phái, các chiêu thức có thể được nhóm lại theo các cấp bậc về độ khó. Vì thế sẽ có những chiêu thức nhất định được học trước, và có những chiêu thức chỉ dành cho các cấp cao hơn. Với ý nghĩa này, các bài tập đã được ấn định. Vì thế các chiêu thức sẽ là một dụng cụ huấn luyện rất hiệu quả và thuận tiện cho cả người học lẫn người dạy.
  3.       Đặc biệt quan trọng đối với môn sinh, chiêu thức rèn luyện thân thể, tập luyện chúng sẽ tăng cương sức chịu đựng, khả năng giữ thăng bằng và kết hợp, tất cả điều là những yếu tố vô cùng quan trọng khi lâm trận. Phải thực hiện các kỹ thuật này theo những thứ tự khác nhau, (trong các chiêu thức khác nhau) có nghĩa là các môn sinh phải học các kỹ thuật một cách đầy đủ. Học bắt buộc phải biết cách thực hiện mỗi một chiêu thức bất kể chiêu thức đó có trước hay có sau. Điều này cần có một sự linh hoạt, sự kết hợp và sự ăn ý về thời gian. Nó cũng dạy các môn sinh cách sử dụng, trao đổi năng lượng.
  4.       Chiêu thức luyện tâm trí. Để thực hiện chiêu thức chính xác, bạn cần phải nhớ được thứ tự của nó. Ở giai đoạn đầu, việc này đòi hỏi bạn phải hoàn toàn tập trung vào hình thái bên ngoài: nhớ đúng thứ tự và thực hiện một cách chính xác. Sau nhiều lần lập đi lặp lại,  các thứ tự này sẽ trở thành tự động, và tâm trí của bạn có thể coi ý nghĩa chiêu thức là hành động của cuộc chiến thực sự. Vì thế, trong khi tập luyện, bạn luôn phải giữ cho đầu óc tỉnh táo và sẵn sáng đối với chiêu thức bạn sẽ thực hiện và những kỹ thuật sẽ diễn ra tiếp theo. Như vậy tâm trí bạn luôn tỉnh táo (và tránh cho bạn không bị nhàm chán trong khi phải thực hiện lập đi lập lại các chiêu thức).
  5.       Với ý nghĩa thay cho một trận chiến đấu thực sự, chiêu thức huấn luyện thể chất và tinh thần với nỗ lực tập trung và liên tục. Cuộc chiến đấu là một loạt sự kết nối: đối phương đấm, bạn khóa, bạn đá, đối phương khó, và cứ thế - nên bạn cần phải quen và cảm thấy thoải mái khi phải thay đổi từ động tác này/kỹ thuật này sang động tác/ kỹ thuật khác. Khi chiến thì không được nghỉ, nên bạn cần có sức chịu đựng. Trận chiến cũng diễn ra đồng thời và không đoán trước được, vì thế bạn cũng cần phải học những chiêu thức khác nhau và tập luyện theo các thứ tự khác nhau – đặc biệt là các chiêu thức của các sư phụ khác nhau – thể hiện chiến thuật chiến đấu khác nhau. Và tâm trí của bạn phải luôn tỉnh táo. Chiêu thức giúp tập luyện tất các các yếu tố cần thiết, nhưng không có trận chiến đấu nào thực sự diễn ra theo đúng các thứ tự các chiêu thức. Khi lâm trận thực sự, không những khác về thứ tự các động tác tấn công, mà còn không thể đoán được mức độ dữ dội. Đối phương có thể to, nhỏ, cứng, mềm, khỏe, yếu, thuận tay trái hoặc phải v.v.. Bạn phải điều chỉnh các kỹ thuật và chiến thuật của mình ngay lập tức và đồng thời. Các chiêu thức khác nhau – kết hợp khác nhau, thứ tự khác nhau, đôi khi cả kỹ thuật khác nhau – đều thể hiện các chiến thuật khác nhau. Nêu bạn vẫn luôn cảnh giác, thì kinh nghiệm thực hiện các kỹ thuật khác nhau với sự kết hợp khác nhau và sử dụng tư duy chiến thuật của người khác sẽ giúp bạn phát triển được phong cách chiến đấu của riêng bạn – và để chiến đấu hiệu quả khi cần thiết.
  6.       Chiêu thức cũng là cơ hội phát triển tính cách cá nhân. Ở đay là sự hiện diện các khía cạnh nghệ thuật của Kungfu. Mạc dù thứ tự đã được định, mặc dù các động tác căn bản của các kỹ thuật đã được miêu tả trước, nhưng việc thực hiên trên thực tế bởi mỗi các  nhân đều mang tính cá nhân. Theo thứ tự các động tác, người ta thể hiện bản tính cá nhân của mình. Hãy nhìn những người mới tập luyện, ngay cả ở những giai đoạn đầu, bạn cũng có thể thấy được cá tính của mỗi người rất khác nhau trong việc phân bố thời gian hay kết hợp cũng như thực hiện các động tác. Đây chính là hạt mầm của cái đẹp và biểu hiện cá nhân của năng lực mà sẽ được phát triển trong quá trình tập luyện, và cũng là những yếu tốt làm cho khán giả thấy hấp dẫn và tán thưởng ngay từ những ngày đầu võ thuật được giới thiệu.
  7.         Cuối cùng, chiêu thức ngày nay còn có nghĩa đánh giá các kết quả và thực hiện các kỹ năng. Biểu diễn thường có những chiêu thức và chiêu thức được dùng để thi đấu và tranh giải. Khi những người mới bắt đầu đã mạnh hơn, sự phụ sẽ chỉ định, sẽ giới thiệu những chiêu thức mới tăng dần về độ khó để thách thức và phát triển khả năng của họ xa hơn. Những ai đã biết về một môn phái hay một một trường cụ thể sẽ đánh giá được sự tiến bộ và khả năng của các môn sinh qua các chiêu thức họ biết và cách thực hiện các chiêu thức đó. Trên thực tế, trong nhiều môn phái, có một số chiêu thức được sử dụng để đánh giá sự tiến bộ và thành quả của các môn sinh. Khi sư  phụ quyết định dạy một chiêu thức ở mức độ cao hơn thì các môn sinh biết rằng mình đã đạt được một mức độ cao hơn trong khi tập luyện. Đồng thời, mỗi chiêu thức cũng thể hiện trình độ của môn sinh bằng cách nó được thể hiện. Những người mới bắt đầu có thể diễn chiêu chính xác, còn các cao đồ lại có khả năng thể hiện được sự hiểu biết của các động tác này sâu sắc và rỏ ràng hơn. Cũng giống như trong âm nhạc, mặc dù ai học nhạc cũng có thể chơi Beethoven, nhưng người mới bắt đầu chỉ thể hiện ra được khả ăng nắm vững các nốt nhạc, còn người có đẳng cấp cao hơn có thể sử dụng các nốt nhạc này để thể hiện cảm xúc của mình.